Một bệnh viện có thể triển khai bệnh án điện tử đúng hạn mà dữ liệu vẫn chưa sẵn sàng cho AI lâm sàng. Hồ sơ cũ còn nằm trên giấy. Cách ghi giữa các khoa chưa đồng nhất. Hệ thống mới lưu được dữ liệu, nhưng chưa chắc đã đưa đúng thông tin cho bác sĩ vào lúc cần quyết định.
Vì vậy, số hóa bệnh án và xây dựng hỗ trợ quyết định lâm sàng là hai phần việc khác nhau. Nếu gộp chúng lại, chúng ta sẽ tưởng rằng chỉ cần hoàn thành bệnh án điện tử thì phần khó đã xong.
Thông tư 13 đặt ra nền tảng nào?
Thông tư 13/2025/TT-BYT yêu cầu các cơ sở được cấp phép hoạt động theo hình thức bệnh viện triển khai hồ sơ bệnh án điện tử chậm nhất ngày 30/9/2025. Các cơ sở khác có điều trị nội trú, điều trị ban ngày và điều trị ngoại trú phải hoàn thành chậm nhất ngày 31/12/2026.
Quy định này yêu cầu hạ tầng công nghệ thông tin, phần mềm phục vụ khám, chữa bệnh, lưu trữ dự phòng, bảo mật và khả năng truy xuất dữ liệu. Đây là những điều kiện cần để một hệ thống hỗ trợ quyết định có thể dùng dữ liệu bệnh án. Nhưng Thông tư không quy định rằng dữ liệu giữa mọi bệnh viện phải có cùng cấu trúc, cũng không chứng minh một mô hình AI có thể hiểu đúng mọi trường thông tin.
Đến tháng 4/2026, Bộ Y tế cho biết hơn 75% bệnh viện đã công bố triển khai bệnh án điện tử. Cũng trong thông tin này, Bộ ghi nhận một số nơi chưa thể thay thế hoàn toàn hồ sơ giấy trong công việc hằng ngày. Con số triển khai vì thế không nên được đọc như bằng chứng rằng toàn bộ dữ liệu đã sạch, đầy đủ và kết nối được.
Có dữ liệu số chưa có nghĩa đã có hỗ trợ lâm sàng
Bệnh án điện tử giúp lưu và tìm lại thông tin. Một CDSS còn phải chọn đúng dữ kiện của người bệnh, đối chiếu với nguồn y khoa phù hợp, chỉ ra phần còn thiếu, rồi đưa kết quả cho bác sĩ vào lúc còn kịp thay đổi y lệnh.
Nếu bác sĩ vẫn phải rời bệnh án, nhập lại ca bệnh, tự kiểm tra từng nguồn và đối chiếu với thuốc đang có tại bệnh viện, hệ thống chưa giảm được phần việc nặng. Phần việc chỉ được chuyển sang một cửa sổ khác.
Khu vực này đã có những hệ thống được bản địa hóa
Đông Nam Á không phải một thị trường trống. MIMS Integrated công bố các mô-đun thuốc riêng cho Việt Nam, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Singapore và Philippines. Hệ thống có các chức năng kiểm tra tương tác, dị ứng, trùng hoạt chất, liều dùng, thai kỳ và cho con bú. Trang sản phẩm cũng liệt kê chống chỉ định của Bộ Y tế Việt Nam trong các chuẩn mà MIMS có thể ánh xạ.
UpToDate cho phép tìm kiếm bằng 16 ngôn ngữ, trong đó có tiếng Việt và tiếng Indonesia. Đây là một tiện ích có giá trị. Tuy vậy, tìm kiếm bằng tiếng Việt chưa tự trả lời được ba câu hỏi khác: nội dung có phù hợp với thuốc và hướng dẫn đang dùng tại Việt Nam hay không, hệ thống có đọc được bối cảnh người bệnh từ bệnh án hay không, và bệnh viện có thể kiểm tra căn cứ của câu trả lời đến đâu.
Vì thế, gọi một sản phẩm là “quốc tế” hay “bản địa” chưa cho biết nhiều. Cần nhìn vào từng phần của hệ thống và hỏi phần nào đã thật sự được xây cho nơi sẽ triển khai.
Meddies hiện đã làm được gì?
Kho mã nguồn Meddies hiện có các công cụ FHIR được thiết kế để lấy dữ liệu quan sát, thuốc, chẩn đoán, lần khám và bệnh sử theo thời gian từ OpenEMR. Tuy nhiên, bộ công cụ của luồng chat đang chạy chưa đăng ký các công cụ FHIR này. Bộ công cụ đó hiện có chức năng tìm kiếm kho tri thức, kiểm tra tương tác thuốc và rà soát an toàn bằng quy tắc.
Mã nguồn cho biết phần nào đã được triển khai; bộ công cụ đang chạy cho biết phần nào luồng chat có thể gọi. Cả hai chưa chứng minh Meddies kết nối được với mọi EMR, đã bao phủ đầy đủ danh mục thuốc và quy tắc bảo hiểm tại Việt Nam, hay đã cải thiện kết quả điều trị.
Phạm vi mà chúng tôi có thể nói chắc
Meddies đang được xây từ công việc của bệnh viện Việt Nam: lấy bối cảnh người bệnh từ hệ thống đang dùng, tìm bằng chứng liên quan, thực hiện các bước kiểm tra rõ ràng và để bác sĩ giữ quyết định cuối cùng. Mỗi phần trong đó vẫn cần được đánh giá trên dữ liệu, hệ thống và quy trình thật.
Bản địa hóa AI lâm sàng không kết thúc ở giao diện tiếng Việt. Công việc chỉ hoàn thành khi bệnh viện có thể chỉ ra hệ thống đã đọc dữ liệu nào, dùng nguồn nào, bỏ sót điều gì và có phù hợp với thực tế lâm sàng tại nơi triển khai hay không.
